THÔNG TIN CHUNG - Báo cáo

Báo cáo_Đánh giá chi tiết nguồn gen cá Rai (Neolissochilus benasi Pellegrin & Chevey, 1936)[14/12/2021]

 

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN I

TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT MIỀN BẮC

*********************

 

 

 

 

 

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT NGUỒN GEN CÁ RAI
(Neolissochilus benasi Pellegrin & Chevey, 1936)

 

 

Thuộc nhiệm vụ:

Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen và giống thủy sản khu vực miền Bắc năm 2021

 

 

Đơn vị chủ trì dự án: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I

Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS. Võ Văn Bình

                                                           

 

 

 

 

 

 

 

Hải Dương, tháng 10 năm 2021


 

 

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ RAI
(Neolissochilus benasi Pellegrin & Chevey, 1936)

 


 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

            Cá Rai hay còn gọi là cá Mỵ, thuộc họ cá Chép (Cyprinidae), phân họ cá Bỗng (Barbinae) có tên khoa học là Neolissochilus benasi Pellegrin & Chevey, 1936 (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân, 2005). Trên thế giới cá Rai phân bố chủ yếu tại các lưu vực sông Nguyên, Vân Nam, Trung Quốc. Ở Việt Nam cá Rai phân bố chủ yếu ở sông Lô – Gâm (Hà Giang – Tuyên Quang), sông Đà (Phong Thổ - Lai Châu) thuộc hệ thống sông Hồng. Ngoài ra chúng còn phân bố không nhiều trên các hệ thống sông Bằng (Cao Bằng), sông Gianh (Quảng Bình). Cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, thích sống nơi nước trong, nước chảy và đáy đá có nhiều cát sỏi đá. Cá sống thành từng đàn, thích ngược nước và sâu trong ngòi để kiếm mồi. Mùa đông cá di cư ra sông tới các vực sâu để tránh rét (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân, 2005).

            Cá Rai là loài đặc hữu của miền Bắc Việt Nam, cá có kích thước lớn, tối đa tới 10kg/con (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sĩ Vân, 2005) cá Rai có giá trị kinh tế cao (250.000 – 300.000 đồng/kg với cỡ cá 200g/con), chất lượng thịt thơm ngon và luôn là nguồn thức ăn bổ dưỡng được nhiều người ưa thích. Vì thế cá Rai bị đánh bắt thường xuyên và quá mức, người dân sử dụng những biện pháp khai thác triệt để đã làm cho nguồn lợi cá Rai ngoài tự nhiên bị suy giảm nhanh chóng. Đi cùng với đó là vùng sinh thái phù hợp cho phân bố tự nhiên của loài cá này ngày càng bị thu hẹp đã làm cho nguồn cá Rai có nguy cơ tuyệt chủng, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân khai thác thủy sản. Vì thế, từ năm 1992 loài cá này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam với mức độ đe doạ bậc V.

            Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cá Rai là cơ sở cho những hoạch định chiến lược quản lý và bảo tồn nguồn lợi của loài cá này mang tính cấp thiết. Tuy nhiên, ở Việt Nam các thông tin nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá Rai còn hạn chế. Hiện mới chỉ có một số nghiên cứu liên quan đến đặc điểm sinh học của cá Rai đã được thực hiện như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Rai (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sĩ Vân, 2005), hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học của cá Rai được công bố ở Việt Nam.

            Để góp phần bảo tồn được nguồn lợi, nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Rai làm cơ sở cho nghiên cứu sinh sản nhân tạo và bảo tồn nguồn gen. Bài viết này tập trung trình bày đặc điểm sinh học cơ bản như mô tả hình thái, dinh dưỡng, tuổi thành thục, mùa vụ và sức sinh sản của cá Rai tại khu vực suối Nậm Lang, Du Già, Yên Minh, Hà Giang.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

            Cá Rai (Neolissochilus benasi Pellegrin & Chevey, 1936) được thu mẫu tại khu vực suối Nậm Lang,  xã Du Già, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

            Nghiên cứu về tập tính sống, đặc điểm dinh dưỡng, đặc điểm sinh sản của cá Rai được thực hiện từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2021.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thu mẫu          

            Trong thời gian từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2021, tổng số 70 cá thể cá Rai được thu bằng cách trực tiếp theo ngư dân đánh bắt, đặt mua ở các bến, chợ thuộc khu vực nghiên cứu. Mẫu cá được xử lý ngay khi còn tươi tại điểm thu mẫu, cân khối lượng cá (g), đo chiều dài thân cá (mm), lấy vẩy cá, giải phẫu cá để xác định độ no, độ béo, hệ số thành thục.

2.2.2. Phân loại

Định loại các tài liệu trong và ngoài nước: Mai Đình Yên (1978), Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân (2005).

Sắp xếp theo hệ thống phân loại của Pellegrin & Chevey, (1936).

2.2.3. Nghiên cứu hình thái cá

            Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái theo hướng dẫn nghiên cứu ngư loại của Pravdin (1973). Xác định các chỉ tiêu hình thái như: Số lượng tia vây lưng (D), vây hậu môn (A), vây ngực (P), vây bụng (V), vảy đường bên (L1), đặc điểm phần phụ miệng, chiều dài tiêu chuẩn (L), chiều dài đầu (T), chiều cao lớn nhất của thân (H), cán đuôi (Lcd).

2.2.4. Xác định tuổi

            Tuổi của cá Rai được xác định theo Phương pháp của Pravdin (1973). Lấy vảy cá vùng bên sườn, trên đường bên ngay dưới vây bụng. Ngâm mẫu vảy trong dung dịch NaOH 4% để làm sạch màng, mỡ, các sắc tố bám trên vảy. Sau đó dùng panh kẹp bông làm sạch những sắc tố còn bám trên vảy để được mẫu trong suốt. Vớt vảy ra, rửa lại bằng nước sạch, lau khô, đưa lên kính hiển vi quan sát, đọc các vòng sinh trưởng. Mỗi vòng sinh trưởng tương ứng 1 năm tuổi của cá.

2.2.5. Xác định tập tính ăn

            Xác định tập tính ăn (kiểu ăn) bằng phương pháp của Nicolski (1963) theo các chỉ tiêu: Li/Lo < 1: loài ăn động vật; 1< Li/Lo < 3: loài cá ăn tạp; Li/Lo > 3: loài ăn thực vật. Trong đó, Li là chiều dài ruột, Lo là chiều dài tiêu chuẩn cá.

2.2.6. Xác định thành phần thức ăn trong ruột cá

            Dạ dày và ruột cá được cố định trong dung dịch formalin 10% sau đó phân tích thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá theo phương pháp đếm - điểm kết hợp với tần số xuất hiện của Biswas (1973). Thành phần phiêu sinh thực vật và động vật được định danh theo tài liệu của Đặng Ngọc Thanh và ctv (1980); Đặng Thị Sỹ (2005).

2.2.7. Xác định độ no

            Độ no của cá được xác định dựa vào lượng thức ăn chứa trong ruột theo thang 5 bậc (từ bậc 0 đến bậc 4) của Lebedep (1959), từ đó đánh giá cường độ bắt mồi của cá.

2.2.8. Xác định độ béo của cá

            Sử dụng cả 02 phương pháp của Fullton (1902) và Clark (1928) để xác định độ béo (Q) của cá Rai. Độ béo Fulton và Clark được tính theo công thức:

            Độ béo Fullton Q = (Wg x 100) / Lt3

            Độ béo Clark Qo = (W0 x 100) / Lt3

            Wg: Khối lượng toàn thân (g).

            W0: Khối lượng đã bỏ nội quan (g).

2.2.9. Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản

            -  Mùa vụ sinh sản: Tiến hành giải phẫu mẫu cá để quan sát sự phát triển của tuyến sinh dục trong mỗi lần đi thu mẫu (tháng 1/2020 - tháng 6/2021). Sự phân chia các giai đoạn phát triển buồng trứng dựa trên tài liệu của Nikolski (1963).

            - Xác định hệ số thành thục (Gonadosomatic Ratio - GSR) được xác định theo phương pháp I.F. Pravdin, 1973). Hệ số thành thục GSI = (khối lượng tuyến sinh dục/ khối lượng cá) x 100.

            -  Sức sinh sản tương đối (S1): Số lượng trứng ở giai đoạn III hoặc giai đoạn IV trên 1 gam khối lượng cơ thể cá.

            - Sức sinh sản tuyệt đối (S2): Toàn bộ số lượng trứng có trong buồng trứng ở giai đoạn III hoặc giai đoạn IV. S1 = số trứng/g trứng x khối lượng buồng trứng (g).

2.2.10. Xử lý số liệu

            Số liệu được thu thập và xử lý theo phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm Excel để xác định tỷ lệ % và mối tương quan.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm hình thái

3.1.1. Các chỉ tiêu đo đếm

            Kết quả phân tích các chỉ tiêu đo đếm của cá Rai được trình bày trong Bảng 1.

 

 

Bảng 1. Một số chỉ tiêu đo đếm của cá Rai

Các chỉ tiêu đo đếm

Ký hiệu

Cá Rai

(Nghiên cứu này)

Cá Rai

(Nguyễn Văn Hảo và ctv, 2005)

Số tia vây lưng

D

IV- 11

IV- 9- 10

Số tia vây hậu môn

A

III,6

III,5

Số tia cứng vây ngực

P

I,14

I,1.15-16

Số tia cứng vây bụng

V

I,9

I,1.18

Số vẩy đường bên

L1

31-32

31 - 32

Số đốt sống

 

28 – 30

 

Ghi chú: Các mẫu vật cá hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc.

            Các chỉ tiêu đếm như số tia vây lưng (D): IV,11; vây hậu môn (A): III, 6; vây ngực (P): I, 14; vây bụng (V) I, 9; vảy trên đường bên (L1): 31-32; số lượng đốt sống (28-30) của các mẫu cá Rai thu được tại Du Già, Yên Minh, Hà Giang cho thấy sự khác biệt so với  kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2005) là, số tia vây lưng từ IV, 9 – 11, số tia vây hậu môn III, 5 – 6, số tia cứng vây ngực I, 14 – 16, số tia cứng vây bụng I, 9 – 18. Kết quả phân tích về mặt hình thái có thể thấy loài cá Rai thu được có kích thước khác nhau, cùng một loài cá có tên gọi địa phương khác nhau như cá Mỵ hoặc cá Rầm.

3.1.2. Mô tả về hình thái

            Kết quả phân tích cá Rai cho thấy cá mình thon dài, phần đầu đến lưng gần tròn, phần đuôi dẹp bên. Cá có 2 sọc đen chạy dọc hai bên thân từ nắp mang đến cán đuôi, phía trước đậm phía sau nhạt dần. Các vây màu hơi xám đen và nhạt dần về phía mút vây. Lưng xám đen, phần bụng trắng. Mắt to nằm 2 bên đầu. Miệng kề dưới, rạch miệng hình cung sâu, rãnh sau môi không liền nhau. Cá có 2 đôi râu khá phát triển, râu góc miệng dài đến viền trước mắt. Vây lưng có khởi điểm gần mút mõm hơn gốc vây đuôi, trước khởi điểm vây bụng và có 3 tia đơn mềm và 9 tia phân nhánh. Vây hậu môn có 3 tia đơn mềm và 6 tia phân nhánh. Vây ngực có 1 tia đơn mềm và 14 tia phân nhánh. Vây bụng có 1 tia đơn mềm và 9 tia phân nhánh (Hình 1).

            Đường bên hoàn toàn chạy dọc thân và hơi võng về phía bụng. Số vảy đường bên là 31 - 32 chiếc. Vảy trên đường bên là 4 chiếc, vảy dưới đường bên là 3 chiếc, vẩy trước lưng là 10 chiếc. Chiều dài tiêu chuẩn Lo gấp 3,04 ± 0,5 chiều dài đầu. Chiều dài tiêu chuẩn Lo gấp 3,27 ± 0,54 lần chiều cao lớn nhất của thân và gấp 6,65 ± 0,9 lần chiều cao nhỏ nhất của thân.

Hình 2. Cá Rai (Neolissochilus benasi Pellegrin & Chevey, 1936) được thu ở xã Du Già, Yên Minh, Hà Giang.

3.2. Đặc điểm sinh trưởng

3.2.1. Tốc độ tăng trưởng

* Tốc độ tăng trưởng hàng năm

Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm được tính dựa vào chiều dài xác định được khi dùng công thức sinh trưởng ngược của E. Lea (1910) và Rose Lee, (1920).

Bảng 2. Chiều dài và độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Rai ở suối Nậm Lang.

Nhóm tuổi

Chiều dài L(cm)

Tốc độ tăng trưởng (cm)

L1

L2

L3

L4

T1

T2

T3

T4

1 +

16,7

 

 

 

16,7

 

 

 

2 +

16.6

30,4

 

 

16,6

14,9

 

 

3+

15,5

29,6

41,4

 

15,5

13,0

11,8

 

4 +

14,5

26,5

39,3

54,0

14,5

9,8

8,9

14,7

TB

15,8

28,8

40,3

54,0

15,8

12,57

10,35

14,7

Phần trăm so với năm thứ nhất

100

79,5

65,5

93,1

Kết quả bảng 2 cho thấy cá tuổi 1+ dao động 14,5 – 16,7 cm, trung bình đạt 15,8 cm. Cá Rai tăng trưởng nhanh trong các năm đầu, các năm tiếp theo tốc độ tăng trưởng về chiều dài chậm hơn năm thứ 1 đạt 16,7 cm, năm thứ hai đạt 30,4 cm, năm thứ ba đạt 41,4 cm và năm thứ tư đạt 54,0cm. So với năm thứ nhất thì tốc độ tăng trưởng năm thứ hai đạt 79,5%, năm thứ 3: 65,5% và năm thứ 4 đạt 93,1%.

* Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng

Cá Rai có kích thước nhỏ nhất 8,5 cm (khối lượng 54,3g), kích thước lớn nhất đạt 54 cm (khối lượng 4792g).

Bảng 3. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Rai sông Nậm Lang.

Chỉ tiêu

Nhóm tuổi

Tuổi 0+

Tuổi 1+

Tuổi 2+

Tuổi 3+

Tuổi 4 +

Chiều dài (cm)

8.5 – 10,7

14,5 – 16,7

26,5 – 30,4

39,3 – 41,4

54,0

Khối lượng (g)

54,3 – 92,5

195,6 – 378,4

893,4 – 1214

2415 – 3197

3325 - 4792

Số mẫu

24

23

15

4

3

 

3.3. Đặc điểm dinh dưỡng

3.3.1. Cấu tạo cơ quan tiêu hóa

          Kết quả quan sát cơ quan tiêu hóa của cá Rai cho thấy cá có miệng rộng, rạch nằm ngang và dài. Môi trên hơi nhô ra hơn môi dưới (Hình 2a). Giải phẫu cho thấy cá có răng hầu 3 hàng, với công thức răng là: 2.3.5-5.3.2. Có bốn đôi cung mang, mỗi cung có hai hàng lược mang, màng mang hẹp và liền với eo mang, lược mang ngắn và thưa (Hình 2b).

a. Miệng

 

b. Cấu tạo lược mang

c. Đường ruột

Hình 3. Cấu tạo miệng, mang và đường ruột của cá Rai.

Thực quản cá khá to, có nếp gấp co giãn được. Cá có dạ dày, là phần phình to sau thực quản, mặt trong có nhiều nếp gấp (Hình 2c). Với cấu tạo miệng, mang và ruột như vậy của cá Rai, bước đầu có thể cho rằng đây là loài cá ăn động vật nhỏ và mùn bã hữu cơ, những loài cá này thường k có răng, ruột cá ngắn với vách ruột khá dày.

3.3.2. Tính ăn

Kết quả phân tích mẫu trung bình giữa chiều dài ruột và chiều dài thân cá Rai cho thấy, ruột cá Rai khá dài, có hệ số trung bình giữa chiều dài ruột (Li) trên chiều dài thân (Ls) là 3,10 ± 1,37. Như vậy, cá Rai sẽ có tính ăn thiên về thực vật (có Li/Ls ≥ 3). Hơn nữa, với cấu trúc của đường ống tiêu hóa không dài, vách ruột khá dày có nhiều nếp gấp cho thấy rằng cá Rai có hệ tiêu hóa điển hình của những loài cá có tập tính ăn tạp thiên về thực vật (Bảng 2).

Bảng 4. Các thông số về chiều dài ruột và chiều dài thân của cá Rai

Thông số

Tuổi cá (Năm)

Chiều dài thân (mm)

Giá trị

Khoảng biến động

Chiều dài thân (Ls)

1+ - 4+

100 - 540

12,30 ± 2,31

11,26 – 13,34

Chiều dài ruột (Li)

1+ - 4+

100 - 540

38,20 ± 3,54

37,21 – 39,19

Hệ số dài ruột/dài thân

(Li/Ls)

1+ - 4+

100 - 540

3,10 ± 1, 37

3,30 – 2,93

 

3.3.3. Thành phần thức ăn trong ruột cá

            Phân tích thành phần thức ăn có trong ống tiêu hóa của 20 cá thể cá Rai cho thấy thành phần thức ăn trong ruột cá rất đa dạng, gồm nhiều loại động thực vật đại diện cho 5 nhóm khác nhau bao gồm các ngành động vật phù du, động vật không xương sống và mùn bã hữu cơ. Trong số những loại thức ăn đã được phân tích, các ngành giáp xác và côn trùng chiếm ưu thế hơn là 49% và 37%, còn động vật không xác định được và mùn bã hữu cơ chiếm khoảng 14% (Bảng 3).

Bảng 5. Thành phần thức ăn trong ruột cá Rai

STT

Thành phần thức ăn trong ruột cá

Tỷ lệ %

2

Crustacea

(Copepoda, Cladocera, Amphipoda)

49

3

Insecta

(Hemiptera, Coleoptera, Ephemeroptera, Diptera, Odonata)

37

4

Động vật không xác định và mùn bã hữu cơ

14

            Có thể thấy, trong số các loại thức ăn là trong ruột cá Rai thì nhóm Crustacea chiếm tỷ lệ cao nhất (49%), có lẽ đây là thành phần thức ăn chính của cá Rai. Khi cá còn nhỏ (mẫu có kích thước nhỏ) cá chủ yếu ăn động vật phù du, rất ít các loại thức ăn là thực vật trong ruột cá. Nhóm cá có kích thước lớn hơn ngoài thức ăn chính là ấu trùng côn trùng, trong khi đó các loại thức ăn khác là động vật không xương sống với tỷ lệ nhiều loài cá nhỏ. Có thể nói phổ thức ăn của cá Rai mở rộng dần theo sự phát triển của cá trong vòng đời tương ứng với các loài động vật thủy sinh và côn trùng ở vùng núi, điều này phù hợp với các loài cá có tập tính ăn tạp, đó là cá khi có kích thước lớn thường mở rộng phổ thức ăn để đảm bảo nguồn thức ăn cho các cá thể có kích thước nhỏ, hạn chế sự cạnh tranh thức ăn với nhau trong loài.

3.3.4. Độ béo

            Giá trị độ béo Fulton và Clark của cá Rai biến động khá lớn qua các tháng. Trong đó, độ béo Clark (Qo) biến động trong khoảng từ 0,75% đến 0,98% và độ béo Fulton Q) biến động khoảng từ 0,22% đến 0,64%. Sự biến động của độ béo giữa các tháng nghiên cứu khá nhiều, thấp nhất vào tháng 5 và 7 trùng vào thời gian cá có tuyến sinh dục giai đoạn III và IV nhiều nhất (Hình 3). Điều này là do, trong tự nhiên, quá trình thành thục sinh dục, sự tích lũy và chuyển hóa vật chất dinh dưỡng để tạo ra sản phẩm sinh dục cần phải xảy ra đồng thời. Từ tháng 5 thì độ béo của cá giảm thấp bởi vì cá có khả năng tự điều chỉnh cường độ dinh dưỡng cho phù hợp với hoạt động sống của cơ thể, nhất là những hoạt động có liên quan đến sinh sản của cá, cường độ dinh dưỡng của cá giảm thấp khi tuyến sinh dục cá đạt đến giai đoạn thành thục.

Hình 4. Biến động độ béo Fulton và độ béo Clark qua các tháng thu mẫu

3.3.5. Đặc điểm sinh sản

* Phân biệt giới tính

            - Cá Rai đực có thân hình thon dài, bụng tóp, kích thước bé, vuốt nhẹ 2 thành bụng có dịch màu trắng đục, khi giải phẫu có tuyến sẹ với nhiều dịch tinh trùng.

            - Cá Rai cái thường vào mùa sinh sản có chiều cao thân lớn hơn con đực, bụng to, thành bụng mỏng và mềm, lõ sinh dục sửng hồng.

* Tuổi và kích thước thành thục lần đầu

            Kích thước nhóm cá thể khi thành thục sinh dục lần đầu được xác định ở điểm mà tại đó có nhiều hơn 1 số cá thể đã thành thục ở giai đoạn III và giai đoạn IV. Kết quả phân tích mẫu thu được cho thấy nhóm cá có từ 100 - 200 mm tương ứng với khối lượng 92,5 – 378,4g chưa có cá thể nào thành thục. Nhóm cá có chiều dài 200 - 300 mm có khối lượng 893,4 – 1214g thì đã có 2 cá thể thành thục, chiếm 9,5% số cá trong nhóm này. Như vậy, cá bắt đầu thành thục khi đạt 2+ tuổi với chiều dài >200 mm và khối lượng đạt > 800 g (Bảng 6). Mẫu cá thu được càng lớn về chiều dài và khối lượng, thì tuổi càng lớn và tỷ lệ thành thục càng cao, đạt 30% ở nhóm 300 - 400 mm và 95,6% ở nhóm 450 - 540 mm.

Bảng 6. Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá

Kích thước (mm)

Khối lượng (g)

Tuổi

Số cá thể thành thục

giai đoạn III, IV

Số cá thể

trong nhóm

 

Tỷ lệ %

thành thục

 

100 – 200

92,5 – 378,4

1+

0

15

0

200 – 300

893,4 – 1214

2+

2

21

9,5

300 – 400

2415 - 3197

3+

6

20

30,0

450 – 540

3925 - 4792

≥ 4+

22

23

95,6

* Hệ số thành thục (GSI)     

            Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ số thành thục (GSI) của cá Rai có sự biến động lớn giữa các tháng (từ tháng 2 đến tháng 7) (Hình 5). Hệ số thành thục tăng cao trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 (từ 3,5% đến 5,3%) và đạt giá trị cao nhất trong tháng 7 (5,3%). Mẫu cá thu được trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 9 có buống trứng thoái hóa một phần hoặc đã đẻ nên chỉ hệ số thành thục giảm thấp,

Hình 5. Hệ số thành thục của cá Rai cái qua các tháng thu mẫu

* Sức sinh sản của cá Rai

            Số liệu sức sinh sản tuyệt đối, sức sinh sản tương đối của cá Rai cho thấy cá thành thục vào năm thứ 3 (2+ tuổi) khi kích thước đạt từ 200 mm trở lên, tương đương khối lượng > 300 g/con. Sức sinh sản tuyệt đối của cá giao động 1954 - 5827 trứng, trung bình đạt 3890 trứng. Sức sinh sản tương đối dao động từ 6,5 – 19,4 trứng/g cá cái, trung bình đạt 12,9 trứng/g cá cái với đường kính thay đổi trong khoảng 2,2 – 2,8 mm.

            Nhìn chung, sức sinh sản của cá Rai thấp hơn một số loài cá có vảy như cá Măng (Võ Văn Bình, 2017) cá Chày Đất (Mai Văn Nguyễn, 2013) và cá Anh Vũ (Nguyễn Hữu Ninh, 2005). Cá Rai có buồng trứng khá lớn so với kích thước cơ thể nhưng kích thức hạt trứng to vì vậy số lượng trứng trong mỗi buồng trứng là không nhiều. Mặc dù vậy, nghiên cứu về sinh học sinh sản của cá Rai mới chỉ dựa vào các mẫu thu được ở lại quy mô nhỏ, thời gian nghiên cứu ngắn nên cần thu nhiều mẫu vật hơn và lặp lại ở các tháng thu mẫu.

4. KẾT LUẬN

            Cá Rai có tập tính ăn tạp thiên về động vật với cấu trúc hệ tiêu hóa chiều dài ruột/chiều dài thân cá là 2,37 ± 0,07. Thành phần thức ăn trong ruột cá khá đa dạng, gồm hơn 28 loài đại diện cho 4 ngành đông vật, thực vật khác nhau, trong đó ngành giáp xác và côn trùng chiếm ưu thế (49%) số lượng các ngành trong thức ăn.

            Độ béo Fulton và Clark của cá Rai biến động khá lớn qua các tháng. Độ béo Clark (Qo) biến động từ 0,75% đến 0,98%, độ béo Fulton (Q) biến động từ 0,22 đến 0,64%. Độ béo giữa các tháng nghiên cứu thấp nhất vào tháng 5 và 7 trùng vào thời gian cá có tuyến sinh dục giai đoạn III và IV nhiều nhất.

            Cá thành thục vào năm thứ 3 (2+ tuổi) khi kích thước đạt từ 200 mm trở lên, tương đương khối lượng 800 g/con. Sức sinh sản tuyệt đối của cá giao động 1954 - 5827 trứng, trung bình đạt 3890 trứng. Sức sinh sản tương đối dao động từ 6,5 – 19,4 trứng/g cá cái, trung bình đạt 12,9 trứng/g với đường kính thay đổi trong khoảng 2,2 – 2,8 mm.

            Hệ số thành thục của cái bắt đầu tăng cao từ tháng 3 đến tháng 7, cao nhất ở tháng 5 đến tháng 7 (4,8 - 5,3 %).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980). Định loại động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  2. Đặng Thị Sỹ (2005). Tảo học. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  3. Pravdin (1973). Hướng dẫn nghiên cứu cá, (tài liệu tiếng Việt do Phạm Thị Minh Giang dịch) Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.
  4. Nicolski, G.V. (1963). Ecology of fishes. Acedemic press, London.
  5. Nikolxki G.V. (1973). Sinh thái học cá. NXB. ĐH & THCN, Hà Nội.
  6. Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2005). Cá nước ngọt Việt nam, tập 2, Họ cá Chép (Cyprinidae). Nhà xuất bản Nông nghiệp.
  7. Nguyễn Thái Tự (1981). Khu hệ cá sông Lam (Luận án Phó Tiến sĩ). Trường Đại Học Vinh, Nghệ An.
  8. Võ Văn Bình, Nguyễn Hải Sơn, Nguyễn Văn Chung, Lê Ngọc Khánh (2017). Bảo tồn và lưu giữ nguyền gen giống thủy sản. Báo cáo tổng kết quỹ gen năm 2017. Chương trình bảo tồn Quỹ gen giai đoạn 2016-2020.
  9. Đặng Thị Lụa và Lê Ngọc Khánh (2020). Bảo tồn và lưu giữ nguyền gen giống thủy sản. Báo cáo tổng kết quỹ gen năm 2020. Chương trình bảo tồn Quỹ gen giai đoạn 2016-2020.
  10. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007). Sách đỏ việt nam. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Xã hội.

 

Nguồn tin: http://gca.ria1.org/
Lượt xem: 58

Các tin khác

ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ

anh

CÁC ĐỐI TÁC

anh anh anh anh anh

LIÊN KẾT WEBSITE