THÔNG TIN CHUNG - Báo cáo

Báo cáo_Đánh giá chi tiết nguồn gen cá Hồng vằn (Lutjanus sebae)[14/12/2021]

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN I

 

 

 

Tên nhiệm vụ:

“BẢO TỒN, LƯU GIỮ NGUỒN GEN VÀ GIỐNG HẢI SẢN MIỀN BẮC NĂM 2021”

 

 

 

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

Đánh giá chi tiết nguồn gen cá Hồng vằn (Lutjanus sebae)

 

 

Người thực hiện:

TS. Vũ Văn In

ThS. Đỗ Xuân Hải

KS. Phạm Văn Thìn

 

 

 

Hải Phòng, 2021

 

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ST      Standard length - chiều dài chuẩn

FT      Fork length - chiều dài chạc đuôi

 

 

 

MỞ ĐẦU

Cá hồng vằn phân bố ở vùng biển Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương, bao gồm phía nam biển Đỏ và Đông Phi đến New Caledonia, phía bắc đến Nam Nhật Bản, phía Nam đến Úc (Fish Base). Ở Việt Nam phân bố ở các vùng biển có rạng san hô, bãi biển bằng, có đá sỏi. Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt ngon và đang được khai thác và bán trong các siêu thị hải sản. Cỡ thương phẩm cá đạt 1,5-3 kg/con. Hiện nay, cá hồng vằn chưa được nuôi phổ biến, nhưng là loài có tiềm năng cho việc đa dạng hóa đối tượng nuôi biển, cung cấp thêm lựa chọn cho người tiêu dùng.

Một trong những khó khăn trong việc đưa cá hồng vằn vào phát triển nuôi là chưa có nguồn cung cấp con giống, cũng như chưa sản xuất được con giống nhân tạo. Do vậy, nhiệm vụ quỹ gen là những bước đi đầu tiên trong việc thu thập, xây dựng quần đàn cá bố mẹ, tìm hiểu đặc điểm sinh học và sinh sản của cá để làm tiền đề nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ sản xuất giống cá hồng vằn phục vụ phát triển nuôi biển.

Chuyên đề này sẽ trình bày về phương pháp và kết quả vận chuyển, lưu giữ và đánh giá nguồn gen cá hồng vằn.

 

  1. Phương pháp nghiên cứu

Điều tra, thu thập các dữ liệu thông tin nguồn gen

Thu thập thông tin qua điều tra, và các thông tin thứ cấp liên quan đến nguồn gen hồng vằn (Lutjanus sebae) thông qua các chương trình, đề tài, dự án đã triển khai trước đây; các công ty/cơ sở nuôi cá, tài liệu, thông tin nghiên cứu liên quan đã được công bố trên các bài báo, tạp chí chuyên ngành.

. Phương pháp thu gom và vận chuyển nguồn gen

Thu gom tại các cơ sở nuôi cá hồng vằn sử dụng cá giống thu từ tự nhiên thuộc khu vực miền Trung (Bình Định, Phú Yên). cá hồng vằn thì phương pháp vận chuyển là vận chuyển hở, có sục khí trong thời gian vận chuyển.

Phương pháp xác định nguồn gen

Xác định nguồn gen cá rai và cá hồng vằn bằng phương pháp so sánh hình thái dựa vào các khóa định loại. Trật tự sắp xếp các bậc taxon dựa theo hệ thống phân loại của Lindberg (1971), Randall và Heemstra (1991), FAO (1998).

Phương pháp thuần dưỡng nguồn gen

Nguồn gen cá hồng vằn được lưu giữ trong ô lồng bè (kích thước 3x3x3m) trên biển tại khu bè cá Việt Hải, Cát Bà, Hải Phòng. Điều kiện môi trường khu bè nuôi giữ: pH: 7,8-8,2; Độ mặn: 20-33‰, Nhiệt độ: 18-32oC; DO: 4,6-5,2 mg/l. Thức ăn sử dụng là tôm cá tạp và thức ăn công nghiệp.

Lưu giữ và chăm sóc quản lý nguồn gen

Nguồn gen cá hồng vằn (Lutjanus sebae) được lưu giữ, chăm sóc tại khu bè cá biển Việt Hải, vịnh Lan Hạ, Cát Bà, thuộc Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc bằng hình thức Ex-situ. Cụ thể, cá hồng vằn được lưu giữ trong ô lồng bè (kích thước 3x3x3m) trên biển với một số điều kiện môi trường nước khu vực lưu giữ là pH 7,8-8,2; Độ mặn 20-33‰; Nhiệt độ 18-32oC; DO 4,6-5,2 mg/l.

+ Thức ăn hàng ngày của các đối tượng này là cá tạp tươi, cua, mực .., lượng thức ăn hàng ngày bằng khoảng 4-5% trọng lượng cá nuôi, tần suất cho ăn là 1 lần/ngày vào buổi sáng sớm (đối với cá song dẹt, song da báo, song chanh) hoặc chiều tối (cá song vua), kiểm tra lượng thức ăn và tập tính bắt mồi của cá để có thể điều chỉnh liều lượng và thời gian cho ăn phù hợp. Hàng ngày theo dõi các yếu tố môi trường, dấu hiệu bệnh thường gặp trong quá trình bảo tồn, lưu giữ để có biện pháp quản lý, chăm sóc phù hợp. Định kỳ 2 tháng/lần thay lồng lưới tạo thông thoáng nước biển lưu thông.

+ Công tác phòng bệnh cho các nguồn gen mặn lợ được thực hiện định kỳ 15 ngày/lần bằng cách tắm nước ngọt hoặc thuốc tím 7 ppm/10 phút hoặc formol 200 ppm/30 phút kết hợp đá lạnh đối với các nguồn gen cá biển. Thực hiện các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như vệ sinh bể nuôi, khu vực nuôi và kết hợp cho ăn vitamin tổng hợp nâng cao sức đề kháng để hạn chế bệnh xảy ra. Trong điều kiện xuất hiện bệnh, cách ly cá thể mang bệnh và bổ sung các loại kháng sinh vào thức ăn với lượng 15 g/kg cho cá, cua ăn liên tục trong 7 ngày. Đối với trường hợp cá bị bệnh nặng thì tiêm kháng sinh trực tiếp vào xoang bụng liên tục trong 5-7 ngày.

Đánh giá chi tiết nguồn gen cá hồng văn

Tỷ lệ sống

+ Tỷ lệ sống của các nguồn gen được tính theo công thức:

     N2

          TLS (%)  =   ---------   x 100

                                  N1

Trong đó:

N1: là tổng số cá thể được lưu giữ ban đầu.

N2: là số cá thể còn sống trong điều kiện lưu giữ.

Một số đặc điểm sinh học sinh sản

+  Xác định mùa vụ sinh sản bằng quan sát phát triển sinh dục bằng biểu hiện bên ngoài (cá mang trứng thường bụng phình to); thăm trứng (kiểm tra độ chín của trứng) bằng ống nhựa mềm nhỏ, thu mẫu tuyến sinh dục nguồn gen lưu giữ bằng cách thu mẫu tuyến sinh dục, và quan sát bằng mắt thường hoặc soi trên kính hiển vi để kiểm tra và xác định độ chín muồi của tuyến sinh dục theo thang 5 bậc theo hướng dẫn của SEAFDEC. Tuyến sinh dục ở giai đoạn IV được coi là thành thục.

+ Tỷ lệ thành thục (%) = Số cá thành thục x 100/số cá nuôi

+ Tỷ lệ trứng thụ tinh (%) = số trứng thụ tinh x 100/số trứng lấy mẫu

+ Tỷ lệ nở của cá (%) = số cá bột x 100/số trứng thụ tinh

II. KẾT QUẢ

  1. Phân loại

Vị trí phân loại:

Lớp: Lớp cá vây tia Actinopterygii

Bộ: Bộ Cá Vược Perciformes

Họ: Họ cá Hồng Lutjanidae

Giống: Lutjaninae

Loài:  Cá Hồng vằn Lutjanus sebae (Cuvier, 1816)

Hình 1. Cá Hồng vằn Lutjanus sebae (Cuvier, 1816) (Nguồn Ryanskiy, A)

2.2 Đặc điểm phân bố

Ở Việt Nam cá phân bố ở khu vực Hải Phòng, Quàng Ninh, và khu vực miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Trên thế giới, loài cá này được tìm thấy ở Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, phía Nam biển Đỏ, phía Đông Châu Phi đến New Caledonia và miền Nam Australia đến Nhật Bản, Trung Quốc, Phillippin.

Hình 2. Sơ đồ phân bố cá Hồng vằn trên thế giới (http://www.fishbase.com)

2.3 Đặc điểm hình thái

Cá Hồng vằn (Lutjanus sebae) có đầu lớn, dẹp bên, lưng gồ cao, bề rộng thân bằng 2,1 đến 2,4 chiều dài thân (ST), xương nắp mang phát triển. Miệng rộng, chếch, hai hàm bằng nhau, hàm trên mỗi bên có hai răng nanh. Xương lá mía có hình lưỡi liềm hay hình tam giác, không có răng. Lược mang ngắn, lược mang tổng cộng 10-12 chiếc, các phiến mang trên cung mang thứ nhất tổng cộng 16-19. Cơ thể có màu hồng hay đỏ, màu đỏ ở mặt lưng và vây, màu hồng ở mặt bên và bụng. Cá nhỏ và cá trưởng thành có dải màu đỏ sẫm từ gai lưng đầu tiên qua mắt đến đầu mõm. Dải thứ 2 từ vây lưng giữa đến vây bụng, dải thứ 3 từ gốc vây lưng đến cuống đuôi và dọc theo mép dưới của vây đuôi. Con trưởng thành có màu đỏ đồng nhất. Thân cá phủ vảy lược mỏng, các hàng vảy trên và dưới đường bên đều xiên. Vây lưng XI (15-16), vây hậu môn III (10), vây ngực tổng cộng 17 (Allen, 1985).

2.4 Tập tính cư trú và bắt mồi

Chúng sống ở các rạn san hô, bãi đá, bãi cát hay sỏi nông ở vùng biển nhiệt đới nơi có độ sâu từ 5-180m (Allen, 1985; Anderson Jr, 1986). Những con cá chưa trưởng thành (<20cm) thường được tìm thấy ở vùng ven biển, rừng ngập mặn hay ở cả vùng nước sâu (Allen, 1985). Chúng thường sống hội sinh với nhím biển (Kuiter & Tonozuka, 2001). Khi trưởng thành chúng di chuyển đến những vùng nước sâu hơn, vào mùa đông chúng bắt đầu di chuyển trở lại vùng nước nông (Williams & Russ, 1994). Chúng là loài cá dữ, săn bắt các động vật khác như cá, cua, bề bề, giáp xác hay động vật chân đầu. Do vậy, chúng dễ bị đánh bắt (Munro & Williams, 1985).

2.5     Đặc điểm sinh trưởng

Cá Hồng vằn là loài có kích cỡ lớn, đạt kích thước tối đa 116cm (FL), 32,7kg, kích cỡ trung bình khoảng 60cm và có thể sống đến 34 năm (Newman et al., 2002). Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể về tốc độ tăng trưởng giữa con đực và con cái, con đực thường đạt kích cỡ lớn hơn so với con cái cùng tuổi ở cả miền Đông và miền Tây nước Úc. Cá Hồng vằn có tốc độ sinh trưởng và phát triển chậm, tỷ lệ chết tự nhiên cao và thời gian thành thục lâu khiến chúng bị đánh bắt quá mức (Marriott et al., 2007; Newman, J, S., Dunk, & F., 2003; Newman et al., 2002; Russ, 1991).

2.6 Đặc điểm sinh sản

Ở New Caledonia, chúng sinh sản chủ yếu vào mùa xuân và mùa hè, quá trình sinh sản thường bắt đầu vào ban đêm cho đến khi rạng sáng. Nhìn chung, tuyến sinh dục của cá Hồng vằn bắt đầu phát triển khi đạt kích cỡ ±  40-50% tổng chiều dài tối đa của cơ thể (Grimes, 1987). Cá Hồng vằn nhiệt đới giống như những loài cá rạn san hô khác, có khả năng sinh sản cao nhưng tỷ lệ sống sót của trứng và ấu trùng thấp. Do vậy, tái sinh sản trong nhiều năm là cần thiết để duy trì quần thể (Newman et al., 2010). Ở Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương số lượng cá Hồng vằn (Lutjanus sebae) cần được quản lý và can thiệp do sinh sản tự nhiên thấp (Newman et al., 2002).

  • Nghiên cứu sinh sản cá Hồng vằn ở vùng biển Seychelles

    Theo nghiên cứu, ở vùng biển Seychelles tuổi thành thục lần đầu là 9 tuổi ở cả con đực và con cái. Khi cá thể đạt kích cỡ 61-63 cm FL, khoảng 50% cá thể bắt đầu thành thục. Kích cỡ sinh sản nhỏ nhất được ghi nhận là 51.2 cm FL, khi đến tuổi trưởng thành con cái sinh trưởng chậm hơn con đực, và cá thể đực trưởng thành đạt kích cỡ lớn hơn so với cá thể cái. Mùa sinh sản của cá Hồng vằn chủ yếu xảy ra từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau (Grandcourt et al., 2008).

  • Nghiên cứu hình thức sinh sản và sự phát triển của ấu trùng cá Hồng vằn

Năm 2021, nhiệm vụ đã tiến hành nuôi vỗ và theo dõi phát triển sinh dục cá hồng vằn, tuy nhiên qua theo dõi, cá không thành thục sinh dục nên việc thăm dò sinh sản không thực hiện trong năm 2021.

Tuy nhiên, qua tổng quan tài liệu cho thấy, cá hồng Vằn đã được nghiên cứu được thực hiện tại viện nghiên cứu Hải sản Gondoal (GRIM) vào năm 2000 với kết quả đã quan sát được các khía cạnh sinh học, sinh sản, sự phát triển của phôi và ấu trùng cá Hồng vằn. Theo đó, 20 cặp cho sinh sản được giữ trong lồng nổi (rộng 9 m2, sâu 4m), và được cho ăn thức ăn có độ đạm 41% dựa trên nghiên cứu đã được thực hiện bởi Sutarmat & Imanto (2001). Kích cỡ con đực trung bình 48 ± 2.70 cm (TL) với khối lượng 2,6 ± 585 g (BW), đối với con cái chiều dài trung bình 51 ± 2.88 cm, trọng lượng 3,245 ±660g. Sự phát triển của phôi được quan sát trong 3 ngày đầu, nhiệt độ ấp nở trong khoảng 26-27°C. Trứng được thụ tinh có dạng hình cầu, nổi trên bề mặt với hạt dầu, trứng có kích cỡ khoảng 0,952 ± 0,029 mm và hạt dầu có kích thước 0,131 ± 0,010 mm. Kết quả sinh sản của cá Hồng vằn được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 1. Dữ liệu sinh sản vào năm 2001 ở Indonesian (Imanto et al., 2006).

Giờ sinh sản

2:20

Am

Kích cỡ trứng

936

µm

Hạt dầu

127

µm

Tỷ lệ thụ tinh

90

%

Nhiệt độ ấp ấu trùng

27-28

°C

Thời gian nở

10:00

Pm

Thời gian ấp ấu trùng

19:39

Giờ

Tỷ lệ nở

75.86

%

 

Bảng 2. Giai đoạn phát triên phôi của cá Hồng vằn

Thời gian (giờ: phút)

Giai đoạn phát triển phôi

0:15

2 tế bào

1:00

8 tế bào

1:45

32 tế bào

2:00

Nhiều tế bào

2:45

Blastula

3:45

Tiền Blastula

7:45

Gastrula

9:45

Hậu Gastrula

12:15

Neurulla (Sự hình thành cơ thể ban đầu)

13:45

Cơ thể có đuôi và kuppfer’s vesicle

18:15

Di chuyển của cơ thể và tim

19:30

Đuôi thon hơn và tách khỏi noãn hoàn

22:00

Vỏ trứng vỡ

22:30

Ấu trùng nở

 

2.7 Đặc điểm dinh dưỡng

Dinh dưỡng đối với cá trưởng thành: Trong quá trình nuôi thuần dưỡng Nhiệm vụ đã thử nghiệm cho cá hồng vằn ăn thức ăn là tôm cá tạp kết hợp thức ăn công nghiệp. Kết quả cho thấy cá hồng vằn ăn và phát triển tốt với thức ăn thử nghiệm.

Dinh dưỡng trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng: Theo nghiên cứu ương nuôi cá Hồng vằn ở Indonesia (Melianawati & Aryati, 2012), trứng cá Hồng vằn được thu từ ngoài tự nhiên để tiến hành thí nghiệm, đưa vào thuần hóa ở bể ương polyethylene có thể tích 500L. Ấu trùng được cho ăn tảo Nannochloropsis oculata trong giai đoạn đầu, sau đó sử dụng kết hợp rotifer Branchionus rotundiformis và copecod Tisbe holothuriae, sau 16 ngày ương bắt đầu sử dụng Artermia. Kết quả thử nghiệm cho thấy, khi ấu trùng được ương trong điều kiện nhiệt độ 28,5-30°C, ánh sáng duy trì ở cường độ 400 lux trong 24h, cho ăn 3 lần/ngày vào 8h, 13h và 19h. Ấu trùng mới nở đạt chiều dài 2,44-2,63mm, tỷ lệ sống của ấu trùng từ giai đoạn mới nở đến giai đoạn PL từ 1,5-2,1%.

 

Hình 3: Sơ đồ thức ăn sử dụng ương nuôi ấu trùng cá Hồng vằn

 

 

III. KẾT LUẬN

Chuyên đề đã thu gom, vận chuyển và lưu giữ thành công nguồn gen cá hồng vằn tại bè cá Việt Hải, Cát Hải, Hải Phòng.

Đã đánh giá được thêm thông tin về đặc điểm sinh sản và dinh dưỡng cá hồng vằn.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Allen, G. R. (1985). Snappers of the world: an annotated and illustrated catalogue of lutjanid species known to date.

Anderson Jr, W. J. S. s. f. S.-V., Berlin. pp. (1986). Lutjanidae.(Genus Lutjanus by GR Allen). 572-579.

Grandcourt, E, H., T, Booth, A., & R., J. (2008). Retrospective stock assessment of the Emperor red snapper Lutjanus sebae on the Seychelles Bank between 1977 and 2006. In: ICES Journal of Marine Science, 65(6):889-898.

Grimes, C. B. (1987). Reproductive biology of the Lutjanidae: a review.

Imanto, Teguh, P., Melianawati, Regina, Suastika, & Journal, M. J. I. A. (2006). SPAWNING PERFORMANCE AND EMBRYONIC DEVELOPMENT OF RED EMPEROR SNAPER (Lutjanus sebae). 1(1), 39-44.

Kuiter, R., & Tonozuka, T. J. Z. A., Ref. (2001). Pictorial guide to: Indonesian reef fishes, part 3, jawfishes–sunfishes, Opistognathidae–Molidae. (48637), 623-893.

Marriott, RJ, Mapstone, BD, Begg, & Research, G. J. F. (2007). Age-specific demographic parameters, and their implications for management of the red bass, Lutjanus bohar (Forsskal 1775): a large, long-lived reef fish. 83(2-3), 204-215.

Melianawati, R., & Aryati, R. W. J. J. I. d. T. K. T. (2012). Culture of Emperor Snapper Lutjanus Sebae. 4(1).

Munro, J. L., & Williams, D. M. (1985). Assessment and management of coral reef fisheries: biological, environmental and socio-economic aspects. In: Antenne Museum.

Newman, J, S., Dunk, B., & F., I. J. J. (2003). Age validation, growth, mortality, and additional population parameters of the goldband snapper (Pristipomoides multidens) off the Kimberley coast of northwestern Australia. 101(1), 116-128.

Newman, SJ, Dunk, IJ %J Estuarine, Coastal, & Science, S. (2002). Growth, age validation, mortality, and other population characteristics of the red emperor snapper, Lutjanus sebae (Cuvier, 1828), off the Kimberley coast of north-western Australia. 55(1), 67-80.

Newman, SJ, Skepper, CL, Wakefield, & Ichthyology, C. J. J. o. A. (2010). Age estimation and otolith characteristics of an unusually old, red emperor snapper (Lutjanus sebae) captured off the Kimberley coast of north‐western Australia. 26(1), 120-122.

Russ, G. (1991). Coral reef fisheries: effects and yields. In ‘The Ecology of Fishes on Coral Reefs’.(Ed. PF Sale.) pp. 601–35. In: Academic Press: San Diego.

Williams, D., & Russ, G. R. (1994). Review of data on fishes of commercial and recreational fishing interest in the Great Barrier Reef Vol. 1: Great Barrier Reef Marine Park Authority.

 

Nguồn tin: http://gca.ria1.org/
Lượt xem: 85

Các tin khác

ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ

anh

CÁC ĐỐI TÁC

anh anh anh anh anh

LIÊN KẾT WEBSITE